Thứ Sáu, 29 tháng 7, 2011

PHÁT HUY VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Không chỉ lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành thắng lợi trong cách mạng giải phóng dân tộc, mà Đảng ta còn khẳng định vai trò to lớn của mình đối với công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua đã đạt những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử: Đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình, kinh tế tăng trưởng nhanh, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao... tạo ra tiền đề quan trọng để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước, phát triển kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN).
 Toàn cảnh Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI
Những thành tựu đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, góp phần củng cố lòng tin của quần chúng vào sự lãnh đạo của Đảng và sự tổ chức, điều hành của Nhà nước. Mặc dù đạt được những thành tựu to lớn như trên, nhưng do điểm xuất phát thấp, sự nghiệp đổi mới được bắt đầu khi nước ta đang trong tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài nhiều năm, cộng thêm những yếu kém, khuyết điểm chủ quan, đến nay nước ta vẫn trong tình trạng kém phát triển, kinh tế còn lạc hậu so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Cơ chế, chính sách kinh tế chưa đồng bộ và chưa tạo động lực mạnh để phát triển... việc tổ chức thực hiện nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng chưa tốt; kỷ luật, kỷ cương chưa nghiêm; một số quan điểm, chủ trương chưa rõ và chưa có sự thống nhất, thông suốt trong nhận thức ở mọi cấp, mọi ngành; cải cách nền hành chính nhà nước tiến hành chậm, thiếu kiên quyết, kém hiệu quả... Do vậy, trong điều kiện hiện nay, để Đảng lãnh đạo xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội theo định hướng XHCN đạt hiệu quả cao, theo tôi phải đảm bảo các vấn đề có tính nguyên tắc sau đây:
Một là, giải quyết hài hòa mối quan hệ chính trị và kinh tế trong công cuộc xây dựng CNXH.
Đổi mới kinh tế tạo cốt lõi vật chất cho việc bảo đảm định hướng XHCN, giải phóng sức sản xuất, khơi dậy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế, các cá nhân, các tập thể lao động và của cả cộng đồng dân tộc. Giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất theo hướng hiện đại, phù hợp với xu thế phát triển của khoa học-công nghệ. Mặt khác, đổi mới kinh tế còn là cơ sở để giải quyết các vấn đề xã hội-chính trị của quá trình xây dựng CNXH. Chính KTTT định hướng XHCN đóng vai trò động lực to lớn cho sự phát triển một tư duy chính trị năng động, cho việc hoàn thiện một thiết chế nhà nước gần dân, sát thực cuộc sống, cho việc tăng cường và củng cố dân chủ trong hoạt động của các đoàn thể chính trị- xã hội, của nhân dân. Tính năng động và bản chất dân chủ của KTTT định hướng XHCN đòi hỏi và tạo tiền đề vật chất kinh tế - xã hội cho tính năng động và dân chủ trong các thể chế chính trị.
Trước những yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng, trong những năm tới, việc hoàn thiện sự lãnh đạo chính trị với kinh tế ở nước ta cần tập trung vào các vấn đề cơ bản sau: giữ vững định hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị trường; quán triệt và thực hiện tốt quan điểm hiệu quả, phát triển, đây là những tiêu chí hàng đầu làm thước đo, đánh giá tính hợp lý, đúng đắn của các quyết sách chính trị với kinh tế, tính ưu việt chính trị; bảo đảm tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách phát triển; tôn trọng yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan; chính trị phải phát huy được các nguồn lực, các động lực phát triển kinh tế và kiểm soát những vấn đề then chốt của kinh tế như: vấn đề sở hữu, quản lý tài chính, ngân sách, phát triển cơ sở hạ tầng, các mối quan hệ tích luỹ-tiêu dùng, thành thị-nông thôn, lao động-việc làm...; cần phối hợp hoạt động giữa các nhà hoạt động chính trị với các nhà kinh doanh; quyền lực chính trị ở mỗi cấp lãnh đạo cần phải được tập trung, thống nhất; phát huy sức mạnh của toàn thể dân tộc và của cả hệ thống chính trị để chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
          Hai là, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ.Nguyên tắc tập trung dân chủ “là sự kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa hai mặt tập trung và dân chủ trong một mối quan hệ hữu cơ biện chứng, chứ không phải chỉ là tập trung hoặc chỉ là dân chủ. Dân chủ là điều kiện, là tiền đề của tập trung, cũng như tập trung là cái bảo đảm cho dân chủ được thực hiện. Dân chủ không phải là “tính từ” của tập trung. Tuyệt đối hoá một mặt nào đều có thể dẫn đến những sai lầm nguy hiểm có hại đến sự lãnh đạo và sức mạnh của Đảng”, “nguyên tắc tập trung dân chủ chính là điều kiện bảo đảm cho tổ chức đảng cố kết về mặt tổ chức, thống nhất ý chí, thống nhất hành động; đồng thời phải phát huy sáng kiến và tính tích cực sáng tạo của mọi đảng viên, mọi tổ chức đảng”[1]. Dân chủ trong Đảng phải có tính đảng, có lãnh đạo, gắn liền với kỷ luật Đảng. Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức của Đảng để xây dựng Đảng thành một tổ chức chiến đấu chặt chẽ, vừa phát huy sức mạnh của mỗi người, vừa tạo nên sức mạnh tổng hợp của tổ chức. Dân chủ và tập trung là hai mặt của một vấn đề. Dân chủ không đối lập với tập trung mà chỉ đối lập với tình trạng độc đoán, chuyên quyền. Tập trung không đối lập với dân chủ mà chỉ đối lập với tự do vô chính phủ, tính phân tán, cát cứ, cục bộ địa phương và thói phường hội. Dân chủ không đối lập với tập trung, mà chỉ đối lập với quan liêu, chuyên chế, độc tài. Dân chủ là cơ sở của tập trung và tập trung chỉ có thể thực hiện được hiệu quả trên cơ sở phát huy thật sự dân chủ trong Đảng.
Hiện nay, Đảng ta đang lãnh đạo công cuộc đổi mới trong điều kiện cơ chế thị trường, mở rộng giao lưu quốc tế, có rất nhiều vấn đề mới mẻ, phức tạp. Nhất là khi giao thông liên lạc thuận tiện, điều kiện tiếp cận thông tin rộng rãi và nhanh chóng, trình độ kiến thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân ngày càng được nâng cao, thì vấn đề thực hiện dân chủ trong Đảng lại càng có ý nghĩa quan trọng. Điều đó đòi hỏi Đảng phải lãnh đạo và đi tiên phong trong công cuộc đổi mới và bản thân Đảng luôn luôn tự đổi mới, tăng cường công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức để thích ứng với nền kinh tế và cơ chế đó. Để thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong một cách đúng đắn và hiệu quả, cần phải có nhận thức đúng đắn và thống nhất về yêu cầu, nội dung dân chủ và nguyên tắc tập trung dân chủ; đồng thời có cơ chế đảm bảo thực hiện nội dung đó. Như vậy, ngoài việc phải có nhận thức đúng đắn và thống nhất về yêu cầu, nội dung dân chủ và nguyên tắc tập trung dân chủ, điều quyết định, cái bảo đảm thực hiện trong thực tế là phải có tinh thần đấu tranh kiên quyết để thực hiện các quy chế, quy định đó.
Ba là, bảo đảm sự phù hợp giữa chính sách kinh tế và chính sách cán bộ.          Những thành công và thất bại của Đảng ta trong lãnh đạo kinh tế nhiều năm qua đã khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa chính sách kinh tế và chính sách cán bộ. Cán bộ ở cấp lãnh đạo cao thì tài năng chủ yếu thể hiện ở việc giải quyết những vấn đề chiến lược. Cán bộ cơ sở và sát cơ sở thì tài năng chủ yếu ở việc giải quyết những vấn đề chiến thuật hằng ngày. Bố trí sai cán bộ cấp chiến lược và cấp chiến thuật, có thể là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến không thành công trong lãnh đạo kinh tế. Lựa chọn, đào tạo và bố trí đúng những cán bộ trung thực và tài năng là yêu cầu cao của lãnh đạo kinh tế trong điều kiện đổi mới hiện nay.
Do đó, trước yêu cầu ngày càng cao của việc phát triển kinh tế-xã hội, việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thực sự là đội ngũ tiên phong trong sự nghiệp mới, mỗi cán bộ, đảng viên thực sự là hạt nhân lãnh đạo, là tấm gương có sức lôi cuốn, tập hợp nhân dân trong tiến trình thực hiện các mục tiêu của đổi mới kinh tế, Đảng ta xác định: “cán bộ phải là người có phẩm chất chính trị tốt, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, hết lòng phấn đấu vì lợi ích của nhân dân, của dân tộc; có bản lĩnh chính trị vững vàng, không dao động trước những khó khăn, thử thách; có năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao; có nhân cách và lối sống mẫu mực, trong sáng; có ý thức tổ chức kỷ luật cao, tôn trọng tập thể, gắn bó với nhân dân”[2].Bốn là, bảo đảm sự phù hợp giữa chính sách kinh tế đối nội và đối ngoại.          Lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, phát triển kinh tế-xã hội theo hướng hiện đại, Đảng ta đã rút ra bài học kinh nghiệm: kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Phát huy nội lực, xem đó là nhân tố quyết định đối với sự phát triển; coi trọng huy động các nguồn ngoại lực, thông qua hội nhập và hợp tác quốc tế, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để phát huy nội lực mạnh hơn, nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp để phát triển đất nước nhanh và bền vững, trên cơ sở giữ vững độc lập dân tộc và định hướng XHCN.
Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, khoa học-công nghệ phát triển như vũ bão, xu thế toàn cầu hoá kinh tế, sự liên kết và phân công lao động quốc tế đã phát triển sâu rộng, thì chính sách kinh tế đối ngoại trở thành một trong những nhân tố quan trọng của sự nghiệp phát triển kinh tế theo định hướng XHCN. Vì thế cần phải tiếp tục “đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập sâu hơn và đẩy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương, lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất”[3]. Đến nay, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với khoảng 172 nước, vùng lãnh thổ trên tất cả các châu lục; quan hệ kinh tế thương mại với trên 100 quốc gia, vùng lãnh thổ và các tổ chức quốc tế lớn.
Với tư cách là người đại diện duy nhất của quốc gia, dân tộc Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam giữ vai trò quyết định việc mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế hiện nay. Vai trò mở rộng quan hệ đối ngoại của Nhà nước thể hiện trên các vấn đề chủ yếu: đây là cơ quan hành chính cao nhất quán triệt và tổ chức thực hiện mục tiêu, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng; đây là cơ quan thống nhất quản lý các hoạt động đối ngoại của quốc gia từ trung ương đến địa phương, của các bộ, ngành và các tổ chức chính trị-xã hội, thông qua hệ thống chính trị nói chung và hệ thống cơ quan đối ngoại nói riêng; đây là cơ quan hành chính cao nhất trong hệ thống chính trị quyết định, định hướng chính sách, lựa chọn đối tác, phương thức, nội dung, đánh giá hiệu quả của việc mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế nhằm phát triển kinh tế-xã hội trong nước và bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Trong công tác đối ngoại phải “bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính là xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN, coi đó là lợi ích cao nhất, đồng thời thực hiện nghĩa vụ quốc tế theo khả năng thực tế của ta. Giữ vững độc lập tự chủ, tự lực, tự cường đi đôi với đẩy mạnh đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại. Nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế; cố gắng thúc đẩy mặt hợp tác, đấu tranh để hợp tác; tránh trực diện đối đầu, tự đẩy mình vào thế cô lập. Tăng cường hợp tác khu vực đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả các nước, trong đó coi trọng quan hệ với nước lớn; chủ động tham gia các tổ chức đa phương, khu vực và toàn cầu. Kết hợp đối ngoại của Đảng, đối ngoại nhà nước và đối ngoại nhân dân…”[4]. Chính sách kinh tế đối ngoại chỉ có hiệu quả khi kết hợp với chính sách kinh tế đối nội thành một hệ thống nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn lực trong nước và tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội đã đặt ra. Sự kết hợp chính sách kinh tế đối nội và chính sách kinh tế đối ngoại được thực hiện ngay từ khi soạn thảo đường lối, chủ trương, chính sách kinh tế và quá trình thực hiện.
Năm là, đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn trong tiến trình phát triển kinh tế-xã hội.Xây dựng Đảng phải tiến hành trên cả hai mặt đổi mới và chỉnh đốn Đảng: Đổi mới là từ bỏ những gì lạc hậu, lỗi thời hay sai trái để đi đến những cái mới, đúng đắn hơn, tiến bộ hơn. Còn chỉnh đốn là sắp xếp lại những gì vốn có trước kia đến nay vẫn đúng nhưng đã bị làm sai lệch. Đổi mới và chỉnh đốn có quan hệ chặt chẽ với nhau. Chỉnh đốn là tiền đề cho đổi mới, đổi mới là đem lại cho Đảng một chất lượng mới, một tầm cao mới, một bước phát triển mới, đáp ứng những yêu cầu của thời kỳ đổi mới. Đảng phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn, vì không ai có thể làm thay cho Đảng, nếu Đảng không thấy trước hết đó là công việc của chính mình. Việc tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng phải thường xuyên, lâu dài là do sự nghiệp xây dựng CNXH càng được triển khai, công cuộc đổi mới đất nước càng được đẩy mạnh, nhiều vấn đề mới lại được đặt ra, càng đòi hỏi Đảng phải vượt lên phía trước để không rơi vào tình trạng bất cập; hơn nữa, phải kịp thời ngăn chặn những suy thoái, biến chất có thể xảy ra trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Phải thường xuyên, lâu dài còn do việc đổi mới, chỉnh đốn là hết sức khó khăn.
Thực tiễn đổi mới của nước ta trong hơn 20 năm qua đã chứng minh Đảng ta vận động theo quy luật Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn. Trong xây dựng Đảng, những thành tựu đạt được đều bắt nguồn từ việc tích cực đổi mới, chỉnh đốn Đảng; ngược lại, những hạn chế, yếu kém đều do đổi mới, chỉnh đốn Đảng quá chậm chạp, không đến nơi, không kiên quyết, không triệt để. Chính vì thế, nhiệm vụ quan trọng là tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, trong đó có việc chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ, kiện toàn và đổi mới hoạt động của tổ chức cơ sở Đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, đổi mới tổ chức, bộ máy công tác cán bộ và đặc biệt là đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng phải đồng bộ với đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, đổi mới kinh tế, thực hành dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng. Khâu mấu chốt ở đây là đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ở tất cả các cấp, từ trung ương đến cơ sở. “Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng đường lối, quan điểm, các nghị quyết; lãnh đạo thể chế hoá, cụ thể hoá thành hiến pháp, pháp luật, kế hoạch, các chương trình công tác lớn của Nhà nước; bố trí đúng cán bộ và thường xuyên kiểm tra việc tổ chức thực hiện”[5].
Trong vấn đề tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng còn nhiều nội dung khác như công tác tư tưởng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, phòng chống tham nhũng, lãng phí, công tác tổ chức, bộ máy của Đảng và của hệ thống chính trị, công tác cán bộ, công tác kiểm tra, giám sát, công tác quần chúng. Tất cả các nội dung này có quan hệ chặt chẽ với nhau và đều cực kỳ quan trọng trong việc làm cho Đảng ngày một vững mạnh hơn, vì vậy cần được thực hiện đồng bộ. Mặc dù vậy, chúng tôi cho rằng, cần quan tâm đặc biệt đến hai khâu then chốt nhưng lại đang khá bức xúc cần tự đổi mới và chỉnh đốn sớm để làm chỗ dựa cho các khâu khác chính là công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng nhằm đảm bảo cho sự thành công của công cuộc đổi mới và phát triển đất nước.
Tóm lại, cách mạng muốn thành công phải có Đảng mácxít chân chính lãnh đạo. Bài học về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là bài học mang tính tổng hợp của tất cả các bài học. Chỉ khi nào đường lối, chủ trương chiến lược, sách lược của Đảng đúng đắn, sáng tạo thì chúng ta mới đi đến thành công. Thực vậy, sự lãnh đạo của Đảng đối với việc phát triển kinh tế-xã hội nước ta hơn 20 năm qua đã khẳng định sự đúng đắn, sáng tạo về đường lối, chủ trương của Đảng-khẳng định Đảng là nhân tố quan trọng nhất trong hệ thống chính trị nước ta, là tổ chức chính trị duy nhất có thể lãnh đạo công cuộc đổi mới đi tới thành công. Đòi hỏi Đảng phải lãnh đạo đất nước, bảo đảm sự ổn định chính trị xã hội, kết hợp hài hoà với phát triển kinh tế, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, đẩy mạnh phát triển kinh tế đối ngoại và kinh tế đối nội, bảo đảm sự phù hợp giữa chính sách kinh tế với chính sách cán bộ, đặc biệt Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội.


[1] GS, TS, Nguyễn Phú Trọng, Đảng Cộng sản Việt Nam trong tiến trình đổi mới đất nước, Nxb CTQG, Hà Nội 2005, tr.302.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, Hà Nội, 2006, tr. 136.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb CTQG, Hà Nội, 2006, tr.113-114.[4] Hoàng Đức Nhuận, Nguyễn Quang Phát (chủ biên), Đảng lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, Nxb QĐND, Hà Nội, 2007, tr.178-179.
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, Hà Nội, 2006, tr.137-138.

VAI TRÒ CỦA QUÂN ĐỘI TRONG XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN VIỆT NAM

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính là xây dựng một nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, tất cả các cơ quan Nhà nước, các tổ chức, kể cả tổ chức Đảng đều phải hoạt động theo Hiến pháp, pháp luật, chịu trách nhiệm trước nhân dân về các hoạt động của mình. Và mọi công dân đều có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp, pháp luật, phải sống và làm việc theo pháp luật... Để xây dựng một nhà nước như thế là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội và toàn thể nhân dân, trong đó Quân đội là một lực lượng đóng vai trò quan trọng trong xây dựng và bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Điều đó được khẳng định ở các nội dung sau:
Thứ nhất, Quân đội luôn nhận thức rõ trách nhiệm của mình với việc xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực sự là của dân, do dân, vì dân, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH.
Bất cứ quân đội nào cũng đều phải thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nhà nước đã tổ chức ra và nuôi dưỡng nó. Đối với quân đội ta, chiến đấu để giải phóng dân tộc, chống xâm lược, giành độc lập tự do cho Tổ quốc, hoà bình và hạnh phúc cho nhân dân; bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng, Nhà nước của dân, do dân, vì dân… là những nội dung cụ thể thể hiện chức năng chiến đấu. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Đội quân cách mạng thực hiện nhiệm vụ đánh đổ đế quốc, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập"[1], "bảo vệ đồng bào, giữ gìn Tổ quốc", "sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội"[2]. Tuy nhiên, Quân đội không phải là lực lượng trực tiếp, quyết định xây dựng Nhà nước, mà chỉ là lực lượng tham gia. Điều đó nói lên phạm vi, mức độ có giới hạn và tính chất của việc quân đội xây dựng Nhà nước. Tham gia xây dựng Nhà nước là phải theo chức năng, nhiệm vụ của quân đội, chứ tuyệt nhiên không phải là theo tư tưởng "súng đẻ ra chính quyền".
Ngoài ra, Quân đội còn tham gia xây dựng Nhà nước, đó là việc tham gia giữ vững môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng quan hệ đối ngoại; tham gia tích cực vào xây dựng địa bàn, xây dựng cơ sở chính trị - xã hội, xây dựng "thế trận lòng dân", thế trận quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc; góp phần giải quyết những vụ việc phức tạp nảy sinh, đấu tranh chống tham nhũng; tham gia vận động quần chúng thực hiện tốt dân chủ, xoá đói giảm nghèo, thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của Nhà nước, của chính quyền địa phương, xây dựng hệ thống chính trị, nhất là ở cơ sở trên phạm vi cả nước cũng như trên từng địa bàn… Thực hiện các nhiệm vụ đó là quân đội góp phần hiện thực hoá chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực trong cuộc sống; góp phần nâng cao hiệu lực tổ chức xây dựng và quản lý của Nhà nước; góp phần làm cho Nhà nước trong sạch, vững mạnh. Đương nhiên, trong từng nhiệm vụ cụ thể đó, vai trò của quân đội không như nhau; trong xây dựng, củng cố quốc phòng, quân đội là lực lượng nòng cốt.
Hai là, Quân đội luôn tích cực tham gia đấu tranh trên mặt trận chính trị-xã hội.
Trước yêu cầu ngày càng cao của việc phát triển kinh tế, thực hiện CNH, HĐH, xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch vững mạnh. Với ý nghĩa đó, Quân đội phải cùng với Đảng, Nhà nước và nhân dân, tích cực đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của địch, thực hiện thắng lợi mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, không được lơ là, mất cảnh giác trước sự chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch và buông lỏng trận địa quốc phòng-an ninh. Bằng bất cứ giá nào, quân đội cũng phải bảo vệ được Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, công tác vận động quần chúng phải làm cho mọi người hiểu quân đội ta là quân đội của nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, phục vụ. Bởi chính sự chăm lo, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi của nhân dân là điều kiện quan trọng để quân đội hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Không dừng lại ở đó, Quân đội còn phải giúp nhân dân làm tốt hơn nữa việc phát hiện và đấu tranh, loại trừ "giặc nội xâm", đó là các tệ nạn xã hội, nhất là nạn tham nhũng, buôn lậu, làm trong sạch bộ máy nhà nước, ổn định đời sống kinh tế, chính trị, kỷ cương, trật tự, an toàn xã hội. Trong các công việc nêu trên, Quân đội phải là lực lượng xung kích đi đầu thực hiện nghiêm pháp luật của Nhà nước, cùng Nhà nước tổ chức, triển khai, phổ biến pháp luật sâu rộng trong quần chúng nhân dân, giúp nhân dân sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Có như vậy, sức mạnh của Nhà nước mới được củng cố và phát triển.
Ba là, Quân đội tích cực tham gia xây dựng kinh tế, lao động sản xuất, nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ, cứu hộ, cứu nạn, bảo vệ tài sản và tính mạng cho nhà nước và nhân dân.
Tham gia lao động sản xuất, làm kinh tế, cứu hộ, cứu nạn là môt tất yếu khách quan, một nhiệm vụ chính trị mang tính chiến lược lâu dài, được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó cho Quân đội nhằm củng cố quốc phòng-an ninh, nâng cao sức mạnh và khả năng sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc góp phần cải thiện và nâng cao đời sống bộ đội, giải quyết các vấn đề xã hội, giảm một phần ngân sách quốc phòng của Nhà nước để Nhà nước có thêm nguồn vốn đầu tư và tăng thêm năng lực sản xuất cho nền kinh tế quốc dân.
Trong những năm qua, Quân đội đã chủ động, tích cực trong nghiên cứu khoa học, chế tạo, sản xuất, sửa chữa, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực quốc phòng, tham gia phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các ngành công nghiệp, hậu cần, kỹ thuật, dịch vụ của quân đội cũng từng bước được đổi mới và phát triển. Quân đội đã sản xuất được nhiều vũ khí, trang bị kỹ thuật, đồ dùng thiết yếu phục vụ cho nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của mình; sản xuất nhiều mặt hàng dân dụng phục vụ đời sống xã hội.
Thực hiện nhiệm vụ tham gia xây dựng kinh tế, xóa đói, giảm nghèo với phương thức chủ yếu là xây dựng khu kinh tế mới, các khu kinh tế kết hợp với quốc phòng dọc biên giới; xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở các vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ địa cách mạng, trước hết là các xã, các huyện biên giới, hải đảo, làm nòng cốt cùng toàn dân bảo vệ biên giới và khẳng định chủ quyền của Nhà nước ta; tham gia cứu hộ, cứu nạn, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất, phát triển kinh tế gia đình, hỗ trợ xây dựng nhà tình nghĩa cho các đối tượng chính sách còn nhiều khó khăn; tham gia chương trình trồng rừng, bảo vệ rừng, làm đường giao thông, xây dựng trạm xá, trường học, xoá mù chữ, tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, xây dựng củng cố chính quyền cơ sở, củng cố quốc phòng, an ninh ở các địa bàn xung yếu... Đây là những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp nhưng có ý nghĩa, tác dụng rất lớn đối với việc xây dựng và củng cố tiềm lực kinh tế-quốc phòng của Nhà nước.
Bốn là, tham gia tích cực vào quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là các bộ luật và Pháp lệnh bảo vệ Tổ quốc.
Trong nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp là nhiệm vụ rất quan trọng. Chính vì thế, xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, chất lượng cao, là nhiệm vụ quan trọng nhằm tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động tư pháp. Trong lĩnh vực quốc phòng, quân sự, những năm qua, chúng ta đã ban hành được nhiều luật, pháp lệnh như: Luật Quốc phòng, Luật Biên giới quốc gia, Pháp lệnh dân quân tự vệ, các văn bản chỉ đạo giáo dục quốc phòng và công tác quốc phòng ở các bộ, ngành, địa phương... nhờ đó góp phần ngày càng hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực quốc phòng, quân sự. Đặc biệt, trong điều kiện nước ta khi đang hình thành đồng bộ và hoàn thiện các loại thị trường, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tăng cường quốc phòng, an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại, giữ vững môi trường hòa bình và ổn định, tạo thuận lợi cho công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc... việc tiếp tục xây dựng hệ thống pháp luật về quốc phòng một cách đồng bộ, chất lượng cao, vừa góp phần xây dựng và bảo vệ Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vừa nâng cao sức mạnh tổng hợp của quân đội ta.
Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vấn đề triển khai, phổ biến, nâng cao trình độ nhận thức pháp luật có ý nghĩa thiết thực trong toàn quân toàn dân, toàn xã hội. Do đó, quân đội cần tiếp tục đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, chiến sĩ. Đây là một nội dung quan trọng của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng nhằm từng bước tạo chuyển biến căn bản về ý thức tôn trọng pháp luật và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của cán bộ, chiến sĩ; mỗi cán bộ, chiến sĩ phải xác định việc tìm hiểu, học tập pháp luật là nhiệm vụ thường xuyên, là một trong những tiêu chuẩn đánh giá cán bộ, đảng viên; quán triệt và triển khai có hiệu quả các chương trình, kế hoạch thực hiện các luật, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến nhiệm vụ quốc phòng, quân sự; cấp ủy, chỉ huy các cấp tăng cường công tác kiểm tra, tiến hành tổng kết việc thực hiện các chương trình phổ biến giáo dục pháp luật trong đơn vị đưa công tác này ngày càng thiết thực, năng động và hiệu quả.
Năm là, góp phần đẩy mạnh cải cách hành chính theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền.
Cải cách hành chính trong lĩnh vực quốc phòng nói chung và trong Quân đội nói riêng là một bộ phận của cải cách hành chính Nhà nước, nhằm hướng đến xây dựng một nền hành chính nhà nước trong sạch, vững mạnh; trong đó quyền lực và hiệu quả quản lý nhà nước về quốc phòng được tăng cường; nền quốc phòng toàn dân vững mạnh với lực lượng hùng hậu, thế trận vững chắc; tổ chức, biên chế quân đội với số lượng hợp lý, chất lượng tổng hợp cao, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở. Do đó, Quân đội phải trở thành lực lượng nòng cốt trong việc đề xuất và thực hiện tốt các nội dung quản lý nhà nước về quốc phòng như: xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch củng cố, tăng cường nền quốc phòng toàn dân, phòng thủ đất nước, động viên quốc phòng; ban hành và thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quốc phòng; tổ chức, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng; thi hành lệnh, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các biện pháp cần thiết để bảo vệ Tổ quốc; tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật về quốc phòng; thanh kiểm tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo; hợp tác quốc tế về quốc phòng...
Tăng cường quản lý nhà nước về quốc phòng phải xuất phát từ Luật Quốc phòng cùng với sự vận động của thực tiễn quốc phòng, quân sự. Các nội dung quản lý nhà nước về lĩnh vực này sẽ hợp thành động lực mạnh mẽ trong xây dựng lực lượng, thế trận của nền quốc phòng toàn dân, tăng cường sức mạnh quân sự bảo vệ Tổ quốc. Kết quả công tác quản lý nhà nước về quốc phòng phải vừa khẳng định, vừa tăng cường quyền lực của Nhà nước. Do vậy, Bộ Quốc phòng giúp Chính phủ chủ trì thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác quốc phòng theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức; căn cứ vào nghị quyết của Chính phủ, Bộ Quốc phòng xây dựng kế hoạch về công tác quốc phòng và hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương tổ chức thực hiện; chủ động đề xuất các nội dung, yêu cầu về công tác quốc phòng, kinh tế kết hợp với quốc phòng và các hoạt động văn hóa-xã hội khác trong xây dựng các quy hoạch, kế hoạch chiến lược khi các bộ, ngành yêu cầu; tích cực đổi mới theo hướng hiệu quả hơn trong xây dựng các dự án luật, pháp lệnh, nghị định và các văn bản hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh về quốc phòng. Hệ thống văn bản các cấp cần được ban hành đồng bộ, thống nhất, tạo cơ sở pháp lý trong tổ chức thực hiện; thực hiện giáo dục quốc phòng, tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật về quốc phòng. Tiếp tục xây dựng, bổ sung và hoàn thiện hệ thống chương trình, giáo dục, tài liệu giáo dục quốc phòng, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cần đầy đủ, đồng bộ, chất lượng tốt, phù hợp với từng đối tượng, trên cơ sở phát huy tính chủ động, năng lực chủ trì và phối hợp với các bộ ngành liên quan của Bộ Quốc phòng trong quá trình biên soạn và ban hành thực hiện. Mặt khác, nâng cao chất lượng công tác hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện công tác quốc phòng ở bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và địa phương... góp phần tích cực nâng cao chất lượng hiệu quả quản lý nhà nước về quốc phòng.
 Cùng với đó, cần phải xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp trong Quân đội có số lượng và cơ cấu phù hợp, có năng lực và trình độ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được phân công. Mặt khác, thường xuyên đổi mới công tác quản lý cán bộ, xác định cơ cấu cán bộ gắn với chức năng, nhiệm vụ; chuẩn hóa quy trình xem xét, đánh giá, quy hoạch cán bộ các cấp, tiêu chuẩn quy định về bậc quân hàm, nhóm chức vụ, hệ thống chức danh, chức vụ cán bộ. Phát huy tốt tính tích cực, chủ động, sáng tạo, tự lực, tự cường; ra sức xây dựng nền khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội nhân văn quân sự; đẩy mạnh công tác xây dựng nền công nghiệp quốc phòng, góp phần xây dựng, củng cố và phát triển tiềm lực quân sự của nhà nước, từng bước hiện đại hóa quan đội là một yêu cầu khách quan, một nhiệm vụ vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta.


[1] Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Hồ Chí Minh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1989, tr.115.
[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.350.

GIẢI QUYẾT HÀI HOÀ MỐI QUAN HỆ LỢI ÍCH CÁ NHÂN, TẬP THỂ VÀ XÃ HỘI - ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Hiện nay, chúng ta đang hướng đến thực hiện mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, phấn đấu đến năm 2020 về cơ bản là một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Đảng ta khẳng định: "Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội"[1], “chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc” và “Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hoà quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội”[2]. Đây là quan điểm và phương hướng chỉ đạo lớn của Đảng, đòi hỏi phải được thực hiện đồng bộ trong hệ thống chính sách kinh tế - xã hội (KT-XH) ở cả tầm vĩ mô và vi mô, đồng thời mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức đúng đắn và thực hiện tốt theo từng vương vị, chức trách đảm nhiệm. Để thực hiện được điều đó, chúng ta phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội
Về thực chất, quan hệ lợi ích là mối quan hệ giữa người với người nảy sinh và phát triển tất yếu do chính các quan hệ sản xuất, quan hệ kinh tế chuyển hoá thành nhu cầu đời sống xã hội và mỗi thành viên. Quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích có thể xem là "cốt lõi vật chất" của các mối quan hệ xã hội. Bởi lẽ, lợi ích là khâu trực tiếp hơn cả trong việc tạo nên động cơ tư tưởng thúc đẩy con người hành động nhằm thoả mãn nhu cầu. Nhu cầu ngày càng lớn thì sự hấp dẫn của lợi ích đối với chủ thể càng lớn và do đó động cơ tư tưởng nảy sinh trên cơ sở của lợi ích này cũng càng cuốn hút con người, thúc đẩy con người lao vào hành động. Như vậy, tất cả những gì thúc đấy con người hành động đều gắn liền với nhu cầu và lợi ích của họ. Điềm khác nhau chỉ là ở chỗ có hành vi chịu sự chi phối của lợi ích vật chất, có hành vi bị chi phố bởi lơi ích tinh thần, có hành vi chịu sự thúc đẩy của lợi ích cá nhân, có hành vi chịu sự thúc đẩy của lợi ích tập thể, xã hội. Không có hành vi nào của con người hoàn toàn thoát khỏi sự thúc đẩy của lợi ích. Song, trong xã hội, các lợi ích khác nhau đó, đặc biệt là giữa lợi ích riêng và lợi ích chung lợi ích tập thế và lợi ích xã hội), có thể phù hợp với nhau, cũng có thể không phù hợp, thậm chí còn trái ngược nhau. Điều đó còn xảy ra đối với cả những lợi ích chung của các cộng đồng khác nhau, cũng như đối với các lợi ích riêng khác nhau. Để những hành vi và những hoạt động của từng người cụ thể đang theo đuổi các lợi ích khác nhau không triệt tiêu nhau và làm rối loạn xã hội, xã hội cần đến những phương thức điều tiết hành vi của con người mang ý nghĩa phổ biến. Giải quyết hài hoà lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội là một trong những phương thức cần được sử dụng.
Lợi ích là sự phản ánh nhu cầu của cá nhân, của nhóm xã hội, giai cấp có nguồn gốc từ trong quan hệ sản xuất, quan hệ kinh tế được con người nhận thức và trở thành động cơ mục đích hoạt động của họ. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) có ba loại lợi ích bao trùm nhất là lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội. Chúng có mối liên hệ biện chứng thống nhất, gắn bó hữu cơ, chế ước lẫn nhau nhưng có tính độc lập tương đối không thể đồng nhất, không thể thay thế nhau. Vì vậy, kết hợp hài hoà và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa các lợi ích đó sẽ tạo ra động lực của sự phát triển KT-XH. Thực tiễn cách mạng nước ta đã chứng minh, khi nào chúng ta kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội sẽ tạo ra được trạng thái lành mạnh trong từng đơn vị tập thể và xã hội, do vậy mà tính tích cực xã hội và tinh thần sáng tạo được phát huy, kinh tế phát triển, chính trị xã hội ổn định; nếu ngược lại sẽ kìm hãm, cản trở sự phát triển KT-XH, thậm chí tiêu cực xã hội và tệ nạn xã hội gia tăng.
Trong hai cuộc kháng chiến, do chúng ta phải huy động sức người, sức của "tất cả để chiến thắng", để giành cho được tự do, độc lập, thống nhất đất nước cho nên việc đề cao các lợi ích chung của xã hội, của dân tộc, đề cao chủ nghĩa tập thể, giá trị tập thể là hoàn toàn cần thiết và phù hợp. Đó chính là lúc mà sự hy sinh cống hiến người và của cho cách mạng, tất cả vì cái chung, vì quyền lợi của dân tộc là xu hướng chủ đạo trong đời sống xã hội, được mọi người chấp nhận hiển nhiên.
Giai đoạn 1975 -1985, với sự tồn tại của cơ chế quản lý hành chính quan liêu bao cấp kéo dài, đáng chú ý là tình trạng có những chủ trương chính sách của Đảng còn biểu hiện chỉ nặng về đề cao cái chung, tập thể và chủ nghĩa tập thể mà đi đến xem nhẹ cá nhân (con người cụ thể); chưa thực sự quan tâm đến lợi ích cá nhân, hậu quả là đã không phát huy được động lực, tính tích cực, sáng tạo của cá nhân trong đời sống và phát triển kinh tế. Sau chiến tranh, bao nhiêu nhu cầu chính đáng của con người về ăn, mặc, ở, sinh hoạt... (trước kia tạm gác lại) đòi hỏi phải được thoả mãn mà không được đáp ứng, cơ chế quản lý hành chính quan liêu bao cấp vẫn còn tồn tại dai dẳng, tư tưởng bình quân chủ nghĩa cùng với hậu quả chiến tranh đã làm cho con người ít sáng tạo, thụ động, dựa dẫm, ỷ lại, vì đã quen có tập thể và nhà nước bao cấp.
Từ năm 1986 đến nay, do có đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo, Đảng đã chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, mở cửa giao lưu và tham gia hội nhập, toàn cầu hoá với quan điểm phát huy nhân tố con người, phát huy mọi nguồn lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kết hợp hài hoà cả ba lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội. Chủ trương đó đã được thể hiện trong chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, tạo điều kiện cho mọi đối tượng, đơn vị, cộng đồng có thể làm giàu chính đáng; Nhà nước tôn trọng phát huy tính tích cực của từng cá nhân, coi trọng sức mạnh tập thể, đồng thời tính đến các yêu cầu rộng lớn của xã hội. Chính sách xoá đói giảm nghèo, phát triển nông nghiệp và nông thôn, đầu tư cho vùng sâu vùng xa, giảm sự phân hoá giàu nghèo; chính sách đền ơn đáp nghĩa với người có công với nước (thương binh, gia đình liệt sĩ, bà mẹ Việt Nam anh hùng...); chính sách xã hội hoá các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá... đã đi vào cuộc sống, thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về kết hợp hài hoà các lợi ích. Song, trong thực tiễn lại xuất hiện những khuynh hướng quá đề cao lợi ích cá nhân hoặc chỉ coi trọng lợi ích tập thể nhỏ, nhất là đối với lớp trẻ và những đơn vị trực tiếp sản xuất kinh doanh, làm kinh tế. Còn có hiện tượng nhân danh tập thể, nhân danh lợi ích tập thể nhưng thực ra chỉ vì cá nhân, vì lợi ích của một nhóm người cụ thể nào đó hay "nhân danh xã hội", vì cái chung, vì nhân dân, nhưng thực ra chỉ vì "tập thể nhỏ", vì lợi ích cục bộ của đơn vị, địa phương. Các vụ án tham nhũng, tham ô, hối lộ trong những năm vừa qua là biểu hiện của sự vi phạm mối quan hệ lợi ích, là ví dụ điển hình của xu thế chạy theo và tuyệt đối hoá quan hệ. Vì lợi ích cá nhân mà người ta sẵn sàng làm điều phi pháp bất chấp cả đạo lý và pháp luật.
Trong bối cảnh tình hình mới, do yêu cầu đổi mới và hoàn thiện chính sách KT-XH của Đảng và Nhà nước, Đảng ta tiếp tục khẳng định quan điểm, chủ trương trước đây về kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội  trong mối quan hệ với nền tảng liên minh công nhân, nông dân và đội ngũ trí, thực hiện đại đoàn kết toàn dân. Để giải quyết đúng đắn mối quan hệ lợi ích trên, đòi hỏi chúng ta phải nhận thức rõ và quán triệt tốt những vấn đề cơ bản sau:
- Kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội, xuất phát từ luận điểm có tính nguyên tắc của Đảng ta là tất cả vì con người, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển KT-XH. Kết hợp hài hoà ba lợi ích, giải quyết đúng đắn các mối quan hệ lợi ích là nhằm phát huy nhân tố con người, nguồn lực con người, tiềm năng con người cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sức mạnh và nguồn lực quốc gia của sự phát triển bao gồm cả nhân lực, vật lực, cả nội lực và ngoại lực, cả nguồn lực vật chất và nguồn lực tinh thần, truyền thống và hiện đại, trong đó nguồn lực con người là trung tâm và quan trọng nhất. Sức mạnh của nguồn lực con người được cấu thành và tạo nên bởi nguồn lực của cá nhân, tập thể và xã hội mối quan hệ hữu cơ thống nhất mà lợi ích là cốt lõi vật chất. Các chính sách đều phải xuất phát từ nhu cầu của đại đa số quần chúng nhân dân, chứ không thể xuất phát từ lợi ích cá nhân của người hoạch định chính sách, của một nhóm, một tập đoàn nào đó. Do đó, cần xem đây là phương châm chỉ đạo cách mạng, cơ sở cho việc hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước mà mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ ràng và quán triệt đầy đủ trong thực hiện chức trách và nhiệm vụ của mình.
- Trong mọi lĩnh vực, mọi hoạt động đều coi trọng giải quyết đúng đắn các mối quan hệ lợi ích, kết hợp hài hoà các lợi ích; nghĩa là vừa chú ý đúng mức đến lợi ích cá nhân, vừa phải quan tâm thích đáng đến lợi ích tập thể, quyền lợi của cơ quan, đơn vị; đồng thời tính đến và đảm bảo lợi ích chung của xã hội, dân tộc, quốc gia, thực hiện tốt quan điểm mà Đảng ta xác định: “Mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người, do con người. Chiến lược kinh tế - xã hội đặt con người vào vị trí trung tâm... Lợi ích của mỗi người, của từng tập thể và của toàn xã hội gắn bó hữu cơ với nhau, trong đó lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp”[3]. Giải quyết đúng đắn các mối quan hệ lợi ích, kết hợp hài hoà ba lợi ích cần phải dựa vững chắc trên cơ sở của chuẩn mực XHCN, pháp luật của Nhà nước và truyền thống của dân tộc ta theo nguyên tắc chung là lợi ích cá nhân phải phục tùng lợi ích tập thể, lợi ích tập thể phải phục tùng lợi ích xã hội; khi có xung đột lợi ích thì phải đặt lợi ích chung lên trên, lên trước.
Về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "...mỗi người trong Đảng phải hiểu rằng: lợi ích cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng. Lợi ích của mỗi bộ phận nhất định phải phục tùng lợi ích của toàn thể. Lợi ích tạm thời nhất định phải phục tùng lợi ích lâu dài"[4]. Và khi "lợi ích chung của Đảng mâu thuẫn với lợi ích riêng của cá nhân, thì phải kiên quyết hy sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích của Đảng. Khi cần đến tính mệnh của mình cũng phải vui lòng hy sinh cho Đảng"[5]. Điều này cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú ý tới lợi ích cá nhân và coi đó là động lực trực tiếp để kích thích tính tích cực, sáng tạo của mỗi cá nhân. Bởi, trong cuộc sống, mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và gia đình mình. Nếu lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích tập thể thì không phải là cái xấu... đối với cán bộ, đảng viên, thì phải xác định rõ lợi ích của cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng. Lợi ích của mỗi bộ phận nhất định phải phục tùng lợi ích lâu dài. Để giải quyết hài hoà các quan hệ lợi ích theo tinh thần của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi chúng ta phải có  ý thức và tinh thần tập thể, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, bởi chủ nghĩa cá nhân, tính ích kỷ hẹp hòi, tính vụ lợi là cội nguồn của những thói hư tật xấu, của những vi phạm trong mối quan hệ lợi ích hiện nay.
- Cần tiếp tục đổi mới hoàn thiện chính sách KT-XH của Nhà nước theo tinh thần kết hợp hài hoà ba lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội. Quan điểm kết hợp hoà ba lợi ích của Đảng đã được thực hiện trong thực tiễn, thể hiện tính đúng đắn của đường lối, tạo ra sự ổn định kinh tế xã hội, tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tuy nhiên, do tổ chức thực hiện còn có hạn chế, do nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa  đầy  đủ,  do  sự  thoái hoá biến chất của một số cán bộ có chức, có quyền... cho nên vấn đề kết hợp và giải quyết hài hoà các quan hệ lợi ích vẫn còn bất cập, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng hiện nay. Cần thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô để khuyến khích lợi ích, đảm bảo tốt lợi ích của người lao động, các đơn vị, địa phương cũng như toàn xã hội bằng việc thừa nhận sự đãi ngộ về vật chất và tinh thần dưới hình thức luật pháp hoá, thể chế hoá các quyền của cá nhân, các quy định của các đơn vị và địa phương... để định hướng điều chỉnh các mối quan hệ, định hướng giá trị nhân cách con người theo các chuẩn mực tiến bộ, hiện đại mà vẫn giữ được bản sắc văn hoá dân tộc. Đây là cơ sở để cá nhân hiểu và thực hiện đúng nghĩa vụ và trách nhiệm với tập thể; tập thể đơn vị luôn quan tâm tìm cách đáp ứng nhu cầu, quyền lợi chính đáng của mỗi cá nhân, đồng thời phải thực hiện tốt nghĩa vụ và trách nhiệm đối với xã hội, phải tính đến lợi ích chung của quốc gia, dân tộc trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình. Trong tình hình hiện nay, một trong những tiêu chuẩn đánh giá phẩm chất năng lực của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, yêu cầu phải là người biết vận dụng đúng đường lối, chính sách của Đảng, có khả năng kết hợp và giải quyết hài hoà ba lợi ích theo đúng đường lối của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với đặc điểm, nhiệm vụ, tình hình của đơn vị, ngành và địa phương.
Như vậy, thực hiện “kết hợp hài hoà lợi ích” của cá nhân, tập thể và xã hội trên cơ sở đảm bảo độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và mục tiêu hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trong đó, Đảng ta đặc biệt chú trọng lợi ích kinh tế, giải quyết thoả đáng các yêu cầu và nguyện vọng chính đáng của người dân, gắn lợi ích với trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ công dân, tăng cường sự đồng thuận xã hội, xây dựng quan hệ hợp tác, cởi mở, tin cậy lẫn nhau, hướng tới tương lai; tôn trọng những ý kiến khác nhau nhưng không trái với lợi ích chung của dân tộc;..., nhằm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, dựa trên nền tảng của liên minh công – nông - trí vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đã trở thành động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội ở nước ta. Thực tiễn “kết hợp các lợi ích” những năm vừa qua đã tạo ra một “cơ chế” tích cực, trở thành động lực thúc đẩy các chủ thể hoạt động hiệu quả, năng động, sáng tạo, mang lại những thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội, góp phần cải thiện và từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của các tầng lớp nhân dân.


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 86.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (Dự thảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr. 66.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, Nxb Sự thật, 1991, tr. 8.
[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 250.
[5] Hồ Chí Minh, Sđd, t.5, tr. 251.

TƯ TƯỞNG V.I.LÊNIN VỀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA ĐẢNG CỘNG SẢN VÀ QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN

V.I.Lênin-vị lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân và phong trào cách mạng thế giới, người đã phát triển một cách toàn diện và vận dụng sáng tạo những nguyên lý về xây dựng đảng của C.Mác và Ph.Ăngghen để xây dựng một Đảng kiểu mới, một Đảng thường xuyên liên hệ mật thiết và biết lãnh đạo quần chúng. Đây là nguyên tắc tổ chức cơ bản, quy luật tồn tại và phát triển của Đảng Cộng sản.
Đảng phải liên hệ chặt chẽ với quần chúng là tất yếu khách quan, bởi vì, theo V.I.Lênin, Đảng Cộng sản cũng “chỉ là một bộ phận nhỏ của giai cấp vô sản và giai cấp vô sản lại cũng chỉ là một bộ phận nhỏ trong quần chúng nhân dân”[1]. Đảng và quần chúng lao động là hai nhân tố cơ bản của cách mạng vô sản, trong đó Đảng là người lãnh đạo và tổ chức quần chúng, còn quần chúng là lực lượng vật chất tiến hành cách mạng. Nếu không có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản thì quần chúng nhân dân không thể có phương hướng chính trị đúng để đấu tranh và phong trào của quần chúng cũng chỉ dừng lại ở “chủ nghĩa công liên” vì mục tiêu kinh tế và lợi ích tầm thường do hệ tư tưởng tư sản và tiểu tư sản thao túng, do đó cách mạng không thể giành thắng lợi. Mặt khác, nếu không có sự đồng tình và ủng hộ của quần chúng thì Đảng không thể có sức mạnh, cách mạng vô sản không thể đi tới thành công. Sự lãnh đạo của Đảng kết hợp với tính tích cực và sáng tạo của quần chúng tạo ra một sức mạnh vô cùng to lớn.   
Sức mạnh của Đảng là ở sự liên hệ mật thiết với quần chúng, cũng như sức mạnh to lớn của quần chúng được phát huy bắt nguồn từ sự lãnh đạo của Đảng, mối quan hệ đó là mối quan hệ “tin cậy lẫn nhau”, “tín nhiệm lẫn nhau”. Quần chúng tin tưởng, ủng hộ và theo Đảng làm cách mạng. Trong khi đó Đảng phải làm hết sức mình để phát huy vai trò và khả năng sáng tạo không bao giờ cạn của quần chúng, đấu tranh không mệt mỏi cho hạnh phúc của nhân dân. V.I.Lênin chỉ rõ: “Đội tiên phong chỉ làm tròn được sứ mệnh của nó khi nó biết gắn bó với quần chúng mà nó lãnh đạo và thực sự dẫn dắt tập thể quần chúng tiến lên. Nếu không liên minh với những người không phải là đảng viên cộng sản trong các lĩnh vực hoạt động hết sức khác nhau thì không thể nói tới một thành công nào trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng sản cả”[2]. Nói cách khác, những người lãnh đạo không được tách rời quần chúng bị lãnh đạo, đội tiên phong không được tách rời khỏi toàn bộ đội quân lao động.
Cũng như các quy luật xã hội khác, quy luật này không phải phát huy tác dụng một cách tự phát mà phải thông qua hoạt động tự giác của chủ thể-đó là Đảng Cộng sản. Muốn tồn tại, phát triển, xứng đáng là đội tiên phong và có đủ lực lượng, đủ sức mạnh hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình thì Đảng phải liên hệ chặt chẽ với giai cấp công nhân, nhân dân lao động và phải được sự ủng hộ của họ. Đó là một trong những điều kiện quan trọng bảo đảm cho Đảng có sức mạnh và phát triển, là nhân tố cơ bản quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng; là nguyên tắc bất di bất dịch trong công tác xây dựng đảng. V.I.Lênin khẳng định: “Muốn trở thành một Đảng dân chủ-xã hội thì cần phải được sự ủng hộ của chính giai cấp”[3].
Sau khi đập tan bộ máy nhà nước cũ giành chính quyền về tay nhân dân, thiết lập nền chuyên chính vô sản. Sự lãnh đạo của Đảng ngày càng to lớn về quy mô, phong phú và phức tạp về nội dung, bao trùm lên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Chính sự tăng lên không ngừng vai trò lãnh đạo đòi hỏi Đảng phải tiếp tục mở rộng và củng cố mối liên hệ với quần chúng. V.I.Lênin chỉ ra rằng: “Chúng ta là đảng của giai cấp, bởi vậy hầu như toàn bộ giai cấp (và trong thời kì chiến tranh, trong thời kì nội chiến thì toàn bộ giai cấp không trừ một người nào cả) cần phải hoạt động dưới sự lãnh đạo của đảng ta, phải triệt để siết thật chặt hàng ngũ chung quanh đảng”[4].           
Mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng không phải do số lượng đảng viên nhiều hay ít mà do chất lượng đội ngũ đảng viên quyết định, V.I.Lênin cho rằng: “Các tổ chức đảng của chúng ta bao gồm những người dân chủ-xã hội chân chính mà càng mạnh mẽ bao nhiêu, và trong nội bộ đảng càng ít có tình trạng dao động và không kiên định bao nhiêu, thì ảnh hưởng của đảng đối với những người trong quần chúng công nhân chung quanh đảng và chịu sự lãnh đạo của đảng, sẽ càng rộng rãi, càng nhiều mặt, càng phong phú, càng hiệu quả bấy nhiêu”[5]. 
Trong điều kiện Đảng cầm quyền, tiến hành xây dựng CNXH, vấn đề củng cố, tăng cường mối liên hệ giữa Đảng và nhân dân càng trở nên cấp bách và quan trọng hơn bao giờ hết. Bởi vì cuộc cách mạng XHCN là một cuộc cách mạng sâu sắc, toàn diện, triệt để nhất và do đó cũng gay go, phức tạp nhất trong lịch sử loài người. Nói như V.I.Lênin, đó là thời đại rung chuyển vũ bão về chính trị và kinh tế, thời đại đấu tranh giai cấp cực kì sâu sắc. Cuộc cách mạng này đòi hỏi Đảng Cộng sản phải động viên và phát huy đến mức cao nhất tính tích cực và sáng tạo của quần chúng nhân dân, vì “chủ nghĩa xã hội sinh động, sáng tạo là sự nghiệp của bản thân quần chúng nhân dân”[6], “Chủ nghĩa xã hội chỉ có thể xây dựng được khi quần chúng đông đảo gấp 10 gấp 100 lần trước tự bắt tay vào việc xây dựng nhà nước và một đời sống kinh tế mới”[7].
Xây dựng CNXH, là sự nghiệp hoàn toàn mới mẻ và vô cùng khó khăn, nó chỉ có thể thành công nếu Đảng tổ chức và phát huy được tính sáng tạo cách mạng của quần chúng. V.I.Lênin dạy rằng, những người cộng sản chỉ như những giọt nước trong đại dương nhân dân mênh mông và chỉ riêng với bàn tay những người cộng sản thì không thể xây dựng thành công CNXH. Tính sáng tạo sinh động của quần chúng, đó là nhân tố cơ bản của xã hội mới. Chủ nghĩa xã hội không phải là kết quả của những sắc lệnh từ trên ban xuống. Tính chất máy móc, hành chính và quan liêu không dung hợp được với tinh thần CNXH. Chủ nghĩa xã hội sinh động, sáng tạo là sự nghiệp của bản thân quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Trong điều kiện cầm quyền, Đảng có những điều kiện, công cụ mới thuận lợi cho việc tăng cường mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng. Tuy nhiên, trong Đảng cũng dễ nảy sinh bệnh quan liêu, mệnh lệnh, xa rời quần chúng, không quan tâm đầy đủ tới lợi ích quần chúng. V.I.Lênin nhấn mạnh: “Đối với Đảng Cộng sản… thì một trong những nguy hiểm lớn nhất và đáng sợ nhất là tự cắt đứt liên hệ với quần chúng”[8]. Nếu ai quên mất những mối liên hệ khăng khít giữa đội tiên phong và toàn thể nhân dân “thì đó là một tai hoạ thật sự”[9]. Quan liêu xa rời quần chúng chính là nguy cơ làm cho Đảng dễ phạm sai lầm về đường lối, vì nó làm cho đường lối của Đảng không phản ánh đúng đắn và đầy đủ tâm tư, tình cảm, nguyện vọng và quyền lợi chính đáng của quần chúng. Vì vậy Đảng không thể xây dựng được niềm tin, sự tín nhiệm của quần chúng; không được quần chúng tán thành đồng tình ủng hộ, không quyết tâm thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và kết quả là đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng chỉ nằm trên giấy mà thôi.
Quan liêu xa rời quần chúng còn là nguyên nhân làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên khi có chức, có quyền nếu thiếu rèn luyện thì rất dễ sinh ra sa đọa, hư hỏng, thoái hoá, biến chất. Điều đó cực kỳ nguy hiểm, làm tổn hại đến uy tín và thanh danh của Đảng đối với quần chúng. Vì vậy, V.I.Lênin yêu cầu trong công tác xây dựng đảng, Đảng phải kiên quyết chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa quan liêu, xa rời quần chúng, “phải đuổi ra khỏi Đảng những kẻ gian giảo, những Đảng viên cộng sản đã quan liêu hóa, không trung thực, nhu nhược...”[10]. Đồng thời kịch liệt phản đối những người cộng sản “tả khuynh” coi công đoàn là một tổ chức phản động. Họ luôn nói đến khái niệm quần chúng, nhưng họ đã lạm dụng khái niệm đó và không hiểu nổi mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng. V.I.Lênin khẳng định: “Chỉ có độc một mình đội tiên phong thôi thì không thể thắng nổi. Ném độc một mình đội tiên phong vào một cuộc chiến đấu quyết định, khi mà toàn thể giai cấp, khi mà quần chúng đông đảo hoặc chưa có ít ra là một thái độ trung lập có thiện cảm đối với đội tiên phong, khiến họ hoàn toàn không thể ủng hộ kẻ địch được, thì đó không những là một điều dại dột, mà còn là một tội ác nữa”[11].
Để tăng cường mối liên hệ giữa Đảng Cộng sản với quần chúng nhân dân, V.I.Lênin yêu cầu:
Một là, Đảng phải tuyên truyền, giác ngộ, tập hợp quần chúng thành lực lượng cách mạng hùng hậu của Đảng.
Để giữ vững và tăng cường mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng, Đảng phải đi vào các giai cấp, các tầng lớp với tư cách là người truyền bá tư tưởng lý luận chủ nghĩa Mác để giác ngộ, tập hợp quần chúng; tổ chức vận động quần chúng, phát huy vai trò của quần chúng trong sự nghiệp cách mạng, V.I.Lênin chỉ ra rằng: “Đảng phải hết sức và sẽ hết sức làm cho tinh thần của mình thấm sâu vào các nghiệp đoàn và làm cho các tổ chức ấy chịu ảnh hưởng của mình”[12], nếu “không công tác trong các công đoàn phản động tức là để mặc cho quần chúng công nhân kém giác ngộ hay lạc hậu rơi vào ảnh hưởng của bọn thủ lĩnh phản động, bọn tay sai của giai cấp tư sản, bọn công nhân quý tộc hay “bọn công nhân tư bản hoá”[13].    
Hai là, Đảng phải đại biểu và chăm lo lợi ích cho quần chúng.
Theo Lênin: nếu mọi hoạt động của Đảng không xuất phát từ nguyện vọng, lợi ích chính đáng của quần chúng, vì quần chúng thì Đảng không có lý do để tồn tại. Bởi vậy, mọi đường lối, chính sách của Đảng phải xuất phát từ nguyện vọng, lợi ích chính đáng của quần chúng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của quần chúng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. 
Ba là, Đảng phải phát huy được vai trò chủ động sáng tạo, tiếp thu kinh nghiệm của quần chúng, tập trung trí tuệ của quần chúng. 
Quần chúng là người sáng tạo ra lịch sử, sáng tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần của xã hội. Vì vậy, Đảng phải phát huy được vai trò của quần chúng làm lực lượng vật chất hùng hậu xung quanh Đảng, phát huy dân chủ, sáng tạo trong phong trào của quần chúng. Đồng thời, phải có phương pháp, tác phong quần chúng, dựa vào quần chúng để xây dựng và hoạt động. Để làm được điều đó, Đảng phải thông qua các tổ chức khác để lôi kéo, tập hợp quần chúng. V.I.Lênin cho rằng, các tổ chức quần chúng càng rộng rãi càng tốt, như vậy Đảng sẽ nắm được nhiều quần chúng hơn, Đảng có thể phát huy được dân chủ nhiều hơn. Và yêu cầu người cộng sản nhất thiết phải công tác ở bất cứ nơi nào có quần chúng, kể cả những tổ chức phản động nhất.
Bốn là, Đảng phải dựa vào quần chúng để xây dựng và hoạt động.
Đảng phải dựa vào quần chúng để xây dựng đường lối, chủ trương cho sát với thực tiễn đời sống của nhân dân. Thông qua quần chúng để phê bình cán bộ, đảng viên và phải xây dựng cơ chế, bộ máy của quần chúng để kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng và làm công tác phát triển đảng và sàng lọc đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Đảng phải đoàn kết và lãnh đạo quần chúng để tiến hành sự nghiệp cách mạng; không ngừng chăm lo xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; bồi dưỡng, rèn luyện, sàng lọc đội ngũ cán bộ, đảng viên; đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, vi phạm dân chủ hoặc dân chủ hình thức.
Năm là, Đảng phải đề phòng và khắc phục các khuynh hướng quan liêu xa rời quần chúng, vượt quá xa trình độ của quần chúng, đồng thời đề phòng khuynh hướng theo đuôi quần chúng. V.I.Lênin dạy: “Chúng ta sẽ chỉ tự lừa dối mình, nhắm mắt trước những nhiệm vụ bao la của chúng ta, thu hẹp những nhiệm vụ đó lại nếu chúng ta quên mất sự khác nhau giữa đội tiên phong và tất cả số quần chúng hướng theo đội tiên phong đó; nếu chúng ta quên mất rằng đội tiên phong có nghĩa vụ thường xuyên phải nâng các tầng lớp ngày càng đông đảo đó lên trình độ tiên tiến ấy”[14].
Kế thừa và vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, từ trong cách mạng giải phóng dân tộc thống nhất đất nước đến công cuộc đổi mới, Đảng đã luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, tạo thành một khối thống nhất không gì lay chuyển được và đó chính là cội nguồn sức mạnh vô địch của Đảng ta. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, thì trên thực tế quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi, trên một vài lĩnh vực còn bị vi phạm. Việc thực hành dân chủ còn mang tính hình thức; có tình trạng lợi dụng dân chủ gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ, gây rối, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Chủ trương, quan điểm của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc, về quyền và lợi ích của các giai cấp, tầng lớp nhân dân chưa được thể chế đầy đủ thành pháp luật; hoặc đã thể chế hoá nhưng chưa được thực hiện nghiêm túc; công tác kiểm tra, đôn đốc chưa thường xuyên; giữa chủ trương và tổ chức thực hiện còn cách biệt.
Cùng với đó, việc tuyên truyền, vận động, tập hợp, thu hút nhân dân tham gia các phong trào, cuộc vận động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân còn hạn chế. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân chưa sâu sát các tầng lớp nhân dân và cơ sở… “tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp, cùng với sự phân hoá giàu nghèo và sự yếu kém trong quản lý, điều hành của nhiều cấp, nhiều ngành làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước”[15]. Thực trạng này đang làm suy giảm lòng tin của quần chúng nhân dân vào Đảng và mối dây liên hệ giữa Đảng với dân cũng không khỏi bị ảnh hưởng xấu.
Để duy trì, củng cố và tăng cường mối liên hệ giữa Đảng với nhân dân, Đảng phải chú trọng làm thật tốt những việc chủ yếu sau đây: Một là: Mọi đường lối, chính sách của Đảng phải xuất phát từ nguyện vọng, lợi ích chính đáng của quần chúng nhân dân, phù hợp với sức dân, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Hai là: Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội về công tác quần chúng. Ba là: Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng thực sự có phẩm chất đạo đức tốt và năng lực lãnh đạo quần chúng, khắc phục hiện tượng sa sút, thoái hoá về phẩm chất, lối sống. Từng cấp uỷ viên, đảng viên trong Đảng phải thực sự sâu sát với quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng, dựa vào lối ăn, lối nghĩ của quần chúng mà tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, hướng dẫn quần chúng đấu tranh với các lực lượng chia rẽ mối quan hệ đoàn kết giữa Đảng với dân.
Tóm lại, sự gắn bó máu thịt, liên hệ mật thiết với quần chúng nhân dân là cội nguồn sức mạnh của Đảng, là quy luật tồn tại, phát triển và hoạt động của Đảng Cộng sản, là nhân tố đảm bảo sự thành công của toàn bộ sự nghiệp cách mạng. Để nuôi dưỡng và phát huy nguồn sức mạnh đó, Đảng phải giải quyết một loạt nhiệm vụ, trong đó cần làm tốt ba việc lớn kể trên. Đó là một trong những điều kiện quan trọng để Đảng luôn có sức mạnh và vượt qua những nguy cơ, thách thức; đồng thời, lãnh đạo nhân dân thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.


[1] V.I.Lênin. Toàn tập, tập 43. Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr.274.
[2] V.I. Lênin (1979), sđd.,t. 8, tr. 28-29.
[3] V.I. Lênin (1979), sđd.,t. 8, tr. 293.
[4] V.I. Lênin (1979), sđd.,t. 8, tr. 289.
[5] V.I. Lênin (1979), sđd.,t. 8, tr. 288-289.
[6] V.I. Lênin (1978), sđd.,t. 35, tr. 64.
[7] V.I. Lênin (1978), sđd.,t. 37, tr. 523.
[8] V.I. Lênin (1979), sđd.,t. 44, tr. 426.
[9] V.I. Lênin (1979), sđd.,t. 45, tr. 128.
[10] V.I. Lênin (1978), sđd.,t. 44, tr. 154.
[11] V.I. Lênin (1979), sđd.,t. 8, tr. 294.
[12] V.I. Lênin (1979), sđd.,t. 41, tr. 45.
[13] V.I. Lênin (1979), sđd.,t. 8, tr. 45.
[14] V.I. Lênin (1979), sđd.,t. 8, tr. 289-290.
[15] Đảng Cộng sản Việt Nam. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.